Luật BHXH sửa đổi: Nam giới được hưởng chế độ thai sản

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2014
Luật BHXH sửa đổi: Nam giới được hưởng chế độ thai sản
Ngày 20/11/2014, Quốc hội đã thông qua Luật số 58/2014/QH13- Luật bảo hiểm xã hội (BHXH), thay thế Luật số 71/2006/QH11 khi Luật mới có hiệu lực từ 01/01/2016.

Luật BHXH sửa đổi có những thay đổi lớn và chủ yếu tập trung ở hai chế độ: thai sản và hưu trí. Lần đầu tiên trong chính sách BHXH, nam giới được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản để chăm sóc gia đình khi vợ sinh con, sau đây là một số nội dung đáng chú ý của Luật:

1. Mở rộng đối tượng tham gia đóng BHXH

Ngoài các đối tượng bất buộc tham gia BHXH như hiện nay, Luật BHXH sửa đổi lần này mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc gồm: 

- Bổ sung một số nhóm đối tượng là người làm việc theo mùa vụ, tức người lao động có hợp đồng lao động 01-03 tháng, 

- Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động được cơ quan thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Chính phủ

- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn. Luật hóa một số nhóm đối tượng đã được thực hiện theo các quy định hiện hành: học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí; người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;

2. Mở rộng quyền lợi người lao động

a. Về chế độ thai sản: 

- Bổ sung quy định lao động nam có vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản 5 ngày làm việc đối với trường hợp sinh thường và 7 ngày làm việc đối với trường hợp sinh con phải phẫu thuật, đẻ dưới 32 tuần tuổi; 10 ngày nếu sinh đôi và thên 3 ngày/01con nếu sinh 3 trở lên; 14 ngày nếu sinh 2 trở lên mà phải phẫu thuật; 

- Sửa đổi điều kiện hưởng chế độ thai sản trong trường hợp lao động nữ có thời gian đóng BHXH từ đủ 12 tháng nhưng vì lý do thai không bình thường phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì chỉ cần đảm bảo điều kiện đóng BHXH từ đủ 3 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con; 

- Sửa đổi thời gian lao động nữ nghỉ việc hưởng chế độ khi sinh con, nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi, bổ sung trường hợp lao động nam nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi được hưởng BHXH giống như lao động nữ nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi; 

- Sửa đổi quy định trong trường hợp chỉ có mẹ tham gia BHXH hoặc cả cha và mẹ đều tham gia BHXH mà mẹ chết (kể cả trường hợp mẹ chưa đóng đủ thời gian đóng BHXH theo quy định) sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ; 

- Bổ sung quy định trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không có đủ sức khỏe để chăm sóc con có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo thẩm quyền thì người cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi; 

- Bổ sung trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH khi vợ sinh con thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 tháng tiền lương cơ sở cho mỗi con; tăng thêm 01 tháng cho thời gian lao động nữ nghỉ thai sản trong trường hợp con chết sau khi sinh; 

- Bổ sung quy định chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi.

b. Về chế độ hưu trí:

+ Bổ sung quy định Lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và đủ 55 tuổi thì được hưởng lương hưu (nhưng nếu lương hưu thấp hơn mức lương cơ sở thì không được bù bằng mức lương cơ sở).

+ Đối với trường hợp nghỉ hưu trước tuổi: 

- Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu với mức thấp hơn do nghỉ hưu trước tuổi quy định; Mỗi năm sau tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi thì nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn do nghỉ hưu trước tuổi quy định.

- Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 trở đi, nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi, có thời gian đóng BHXH từ đủ 20 năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn do nghỉ hưu trước tuổi quy định.

+ Đối với BHXH tự nguyện bỏ quy định tuổi trần tham gia BHXH tự nguyện, bỏ quy định mức thu nhập đóng BHXH tự nguyện thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung (nay là mức lương cơ sở), người tham gia có thể lựa chọn phương thức đóng BHXH tự nguyện, cho phép có thể đóng một lần cho nhiều năm về sau hoặc một lần cho những năm còn thiếu để hưởng chế độ BHXH tự nguyện. 


3. Bảo hiểm xã hội một lần khi đủ tuổi hưu (điều 60)

Điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi hội đủ một trong các trường hợp sau:

- Người lao động đủ tuổi hưởng lương hưu mà chưa đóng đủ số năm đóng BHXH và không tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện; 

- Người lao động định cư nước ngoài;

- Người lao động mắc các bệnh hiểm nghèo như ung thư, bại liệt, HIV ... và nững bệnh khác theo Bộ y tế;

- Các truờng hợp không đủ điều kiện để hưởng lương hưu (điểm đ, e khoản 1, điều 2) của các sĩ quan, quân nhân trong quân đội, công an.

Như vậy, theo Luật mới, người lao động chưa đóng đủ số năm đóng BHXH theo quy định muốn hưởng BHXH một lần thì phải "chờ" đến khi đủ tuổi nghỉ hưu mới được lãnh (Luật hiện hành sẽ được lãnh trợ cấp BHXH một lần khi nghỉ việc và không tiếp tục tham gia BHXH), điều này sẽ gây ít nhiều áp lực về phía người lao động.

4.Tăng tính pháp lý để thực hiện chính sách BHXH

- Luật BHXH sửa đổi bổ sung hai hành vi cấm “trốn đóng BHXH” và “chiếm dụng quỹ BHXH”, quy định áp dụng mức tiền phạt lãi tính trên số tiền, thời gian chưa đóng, chậm đóng bằng hai lần mức lãi suất đầu tư Quỹ BHXH bình quân của năm trước liền kề (hiện nay là bằng mức lãi suất đầu tư). 

- Luật BHXH sửa đổi vừa được thông qua đã trao quyền cho cơ quan BHXH được kiểm tra việc thực hiện chính sách bảo hiểm; thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BH thất nghiệp và BHYT, đồng thời xử lý vi phạm hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý vi phạm. 

- Cơ quan BHXH cũng được quyền công khai trên phương tiện truyền thông những trường hợp DN vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH. Những quy định này được kỳ vọng khi đi vào cuộc sống sẽ phần nào hạn chế tình trạng DN nợ đọng tiền BHXH. 

Cùng với việc giao chức năng thanh tra cho cơ quan BHXH, Luật còn quy định thẩm quyền xử phạt của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, Giám đốc BHXH cấp tỉnh, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành ...

Download Luật số 58/2014/QH13 tại đây
Ketoan.biz
Other post

Ý kiến bạn đọc [ 0 ]


Ý kiến của bạn