Chia sẻ-Trao đổi

Thuế

Kế toán

Bài viết mới

Nghị định 374/2025/NĐ-CP: quy định mới về bảo hiểm thất nghiệp từ năm 2026

Nghị định 374/2025/NĐ-CP: quy định mới về bảo hiểm thất nghiệp từ năm 2026
Ngày 31/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 374/2025/NĐ-CP CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.


Nghị định mới được cho là làm rõ hơn những trường hợp đang đóng, mức đóng, mức hưởng, mà còn đặt Quỹ BHTN vào một khuôn khổ quản lý tài chính an toàn hơn. Nghị định 374/2025/NĐ-CP CP có một số điểm đáng chú ý sau:

Các trường hợp được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp

Nghị định 374/2025/NĐ-CP bổ sung trường hợp người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng BHTN (đột ngột ngừng hoạt động, mất khả năng thanh toán, phá sản) cũng được tính là đang tham gia bảo hiểm. Cụ thể, các trường hợp được xác định là người lao động đang đóng BHTN quy định như sau:

1./ Người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

2./ Người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

3./ Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà nghỉ việc do ốm đau, thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

4./ Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

5./ Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.

6./ Người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP ngày 25/06/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Mức đóng BHTN của người lao động bằng 1% tiền lương tháng

Nghị định 374/2025/NĐ-CP CP giữ mức đóng 1% tiền lương tháng đối với người lao động và 1% quỹ tiền lương tháng đối với người sử dụng lao động như quy định cũ, nhưng phân định rất rõ nguồn đóng theo từng loại hình đơn vị, cụ thể:

a) Người sử dụng lao động là cơ quan, đơn vị, tổ chức được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên thì ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ nguồn đóng bảo hiểm thất nghiệp và được bố trí trong dự toán chi thường xuyên hằng năm của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.

b) Người sử dụng lao động là cơ quan, đơn vị, tổ chức được ngân sách nhà nước bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên thì ngân sách nhà nước bảo đảm nguồn đóng bảo hiểm thất nghiệp cho số người hưởng lương từ ngân sách nhà nước và được bố trí trong dự toán chi thường xuyên hằng năm của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước. Phần bảo hiểm thất nghiệp phải đóng còn lại, người sử dụng lao động tự bảo đảm theo quy định tại điểm c và điểm d khoản này.

c) Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức có hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ thì khoản đóng bảo hiểm thất nghiệp được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong kỳ.

d) Người sử dụng lao động là cơ quan, đơn vị, tổ chức khác thì khoản đóng bảo hiểm thất nghiệp được sử dụng từ nguồn kinh phí hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật.

Giảm tiền đóng vào Quỹ BHTN đối với người sử dụng lao động khi sử dụng người lao động là người khuyết tật

Theo Nghị định 374/2025/NĐ-CP, người sử dụng lao động khi tuyển dụng mới và sử dụng người lao động là người khuyết tật thì được giảm mức đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 1% xuống 0% tiền đóng BHTN thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động là người khuyết tật trong thời gian người lao động làm việc nhưng thời gian hỗ trợ không quá 12 tháng đầu kể từ khi tuyển mới người lao động khuyết tật.

Để được giảm mức đóng, người sử dụng lao động đăng ký tham gia BHTN đối với người lao động là người khuyết tật với cơ quan bảo hiểm xã hội để được thực hiện giảm đóng theo quy định trên và kèm theo bản sao giấy xác nhận khuyết tật của từng người lao động.

Mức hưởng và tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp

Nghị định 374/2025/NĐ-CP quy định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp như cũ, cụ thể:


Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng
=
Mức lương bình quân của 6 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp
x60%

Tuy nhiên, Nghị định mới quy định cụ thể hơn và siết chặt hơn một số nội dung quan trọng, chẳng hạn:

Trường hợp những tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp, người lao động có thời gian gián đoạn đóng bảo hiểm thất nghiệp thì 6 tháng liền kề để tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp là bình quân tiền lương của 6 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật.

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Bộ luật Lao động tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

Tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo tháng dương lịch. Mỗi tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày người lao động bắt đầu hưởng trợ cấp thất nghiệp đến ngày đó của tháng sau trừ 1 ngày, trường hợp tháng sau không có ngày tương ứng thì ngày kết thúc của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày cuối cùng của tháng đó.

Cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày người lao động hết thời hạn nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc hết thời hạn thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng ngày.

Nghị định 374/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.

Toàn văn Nghị định 374/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2026 của Chính phủ:


Ketoan.biz

Danh mục bệnh nghề nghiệp áp dụng từ ngày 15/02/2026

Danh mục bệnh nghề nghiệp áp dụng từ ngày 15/02/2026
Ngày 31/12/2025, Bộ y tế đã ban hành Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm  xã hội và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp.


Theo đó, Danh mục 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội có hiệu lực từ ngày 15/02/2026 quy định tại Điều 3 Thông tư 60/2025/TT-BYT như sau:


STT Bệnh nghề nghiệp
Nhóm 1: Bệnh bụi phổi - đường hô hấp
1 Bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp.
2 Bệnh bụi phổi amiăng nghề nghiệp.
3 Bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp.
4 Bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp.
5 Bệnh bụi phổi than nghề nghiệp.
6 Bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp.
7 Bệnh hen nghề nghiệp.
Nhóm 2: Bệnh nhiễm độc hóa chất, kim loại nặng
8 Bệnh nhiễm độc chì nghề nghiệp.
9 Bệnh nhiễm độc nghề nghiệp do benzen và đồng đẳng.
10 Bệnh nhiễm độc thủy ngân nghề nghiệp.
11 Bệnh nhiễm độc mangan nghề nghiệp.
12 Bệnh nhiễm độc 2, 4, 6- trinitrotoluen (TNT) nghề nghiệp.
13 Bệnh nhiễm độc asen nghề nghiệp.
14 Bệnh nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật nghề nghiệp (nhóm phosphor hữu cơ và carbamat).
15 Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp.
16 Bệnh nhiễm độc cacbon monoxit nghề nghiệp.
17 Bệnh nhiễm độc cadimi nghề nghiệp.
Nhóm 3: Bệnh do yếu tố vật lý
18 Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn.
19 Bệnh giảm áp nghề nghiệp.
20 Bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân.
21 Bệnh nghề nghiệp do rung cục bộ.
22 Bệnh phóng xạ nghề nghiệp.
23 Bệnh đục thể thủy tinh nghề nghiệp.
Nhóm 4: Bệnh da nghề nghiệp
24 Bệnh nốt dầu nghề nghiệp.
25 Bệnh sạm da nghề nghiệp.
26 Bệnh viêm da tiếp xúc nghề nghiệp do crôm.
27 Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc môi trường ẩm ướt, lạnh kéo dài.
28 Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc với cao su tự nhiên, hóa chất phụ gia cao su.
Nhóm 5: Bệnh truyền nhiễm liên quan nghề nghiệp
29 Bệnh Leptospira nghề nghiệp.
30 Bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp.
31 Bệnh lao nghề nghiệp.
32 Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.
33 Bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp.
34 Bệnh ung thư trung biểu mô nghề nghiệp.
Nhóm 6: Bênh ung thư, bệnh đặc biệt
35 Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chuẩn mới của vi rút Corona (COVID-19) nghề nghiệp.

Về nguyên tắc chẩn đoán, điều trị và giám định (Điều 4), người lao động sau khi được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp phải hạn chế tiếp xúc với yếu tố gây bệnh, được điều trị theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế; các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp phải được thải độc, giải độc kịp thời.


Người sử dụng lao động có trách nhiệm giới thiệu người lao động đi khám giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động, làm căn cứ hưởng chế độ BHXH; đồng thời bảo đảm việc điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng theo quy định.

Quy định về hội chẩn để chẩn đoán bênh nghề nghiệp (Điều 6), hội chẩn với các trường hợp chẩn đoán các bệnh các bệnh thuộc nhóm bụi phổi, bệnh nghề nghiệp do rung cục bộ và rung toàn toàn thân và các trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn. Kết luận hội chẩn hoàn chỉnh sẽ được ghi vào Biên bản hội chẩn bệnh nghề nghiệp (mẫu tại Phụ lục XXXVII thông tư này).

Thông tư 60/2025/TT-BYT có hiệu lực từ ngày 15/2/2026, đồng thời bãi bỏ Thông tư 15/2016/TT-BYT và Thông tư 02/2023/TT-BYT về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH đã ban hành trước đó.

Toàn văn Thông tư 60/2025/TT-BYT ngày 31/12/2025 của Bộ y tế:


Ketoan.biz

Hợp đồng lao động điện tử áp dụng từ ngày 01/07/2026

Hợp đồng lao động điện tử áp dụng từ ngày 01/07/2026
Ngày 24/12/2025 Chính phủ đã ban hành Nghị định 337/2025/NĐ-CP quy định về hợp đồng lao động điện tử và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.


Theo Nghị định 337/2025/NĐ-CP thì hợp đồng lao động điện tử có giá trị pháp lý như hợp đồng lao động bằng văn bản giấy, sau đây là một số điểm nổi bật của Nghị định này:

Hợp đồng lao động điện tử là gì?


Theo Khoản 1, 2 Điều 3 Nghị định 337/2025/NĐ-CP thì Hợp động lao động điện tử là hợp đồng lao động được giao kết, thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về giao dịch điện tử, có giá trị pháp lý như hợp đồng lao động bằng văn bản giấy.

Hợp đồng lao động điện tử có hiệu lực kể từ thời điểm bên sau cùng ký số, dấu thời gian gắn kèm chữ ký số của các chủ thể tham gia giao kết và chứng thực thông điệp dữ liệu của Nhà cung cấp eContract vào hợp đồng lao động điện tử, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Theo Nghị định 337/2025/NĐ-CP, hợp đồng lao động điện tử được chuyển đổi từ hợp đồng lao động bằng văn bản giấy thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Giao dịch điện tử có giá trị như bản gốc khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Như vậy, bắt đầu từ năm 2026, pháp luật công nhận tồn tại hai loại hợp đồng lao động và có giá trị pháp lý như nhau: Hợp đồng lao động bằng văn bản giấy và Hợp đồng lao động điện tử.

Nguyên tắc chung giao kết và thực hiện hợp đồng lao động điện tử


Theo Điều 4 Nghị định 337/2025/NĐ-CP thì việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động điện tử phải tuân thủ quy định của pháp luật về lao động, về giao dịch điện tử, về an toàn thông tin mạng, về dữ liệu, về bảo vệ dữ liệu cá nhân, về lưu trữ và quy định tại Nghị định này.

Hợp đồng lao động điện tử phải được gửi cho người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức thông điệp dữ liệu thông qua phương tiện điện tử phù hợp theo thỏa thuận của các bên.

Khuyến khích sử dụng hợp đồng lao động điện tử thay thế cho hợp đồng lao động bằng văn bản giấy trong quản trị nhân sự của người sử dụng lao động, trong giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến hợp đồng lao động. 

Điều kiện ký hợp đồng lao động điện tử


Theo Điều 6 Nghị định 337/2025/NĐ-CP thì điều kiện giao kết hợp đồng điện tử quy định như sau:

- Đối với người lao động và người sử dụng lao động là cá nhân: giấy tờ tùy thân bao gồm thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước hoặc căn cước điện tử hoặc giấy chứng nhận căn cước hoặc tài khoản định danh điện tử mức độ 2 hoặc hộ chiếu còn thời hạn; thị thực nhập cảnh còn thời hạn hoặc giấy tờ chứng minh được miễn thị thực nhập cảnh (đối với cá nhân là người nước ngoài).

- Đối với người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình: quyết định thành lập hoặc quyết định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh và giấy tờ tùy thân của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, bao gồm: thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước hoặc giấy chứng nhận căn cước hoặc tài khoản định danh điện tử mức độ 2 hoặc hộ chiếu còn thời hạn; thị thực nhập cảnh còn thời hạn hoặc giấy tờ chứng minh được miễn thị thực nhập cảnh (đối với cá nhân là người nước ngoài).

- Có chữ ký số và sử dụng dịch vụ cấp dấu thời gian theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

- Nhà cung cấp eContract phải bảo đảm các điều kiện sau: Có eContract đáp ứng điều kiện ở trên.

Có giải pháp, công nghệ để thu thập, kiểm tra, đối chiếu, bảo đảm sự khớp đúng giữa thông tin nhận biết tổ chức, cá nhân, dữ liệu sinh trắc học người đại diện theo pháp luật của tổ chức, cá nhân với các thông tin, yếu tố sinh trắc học tương ứng trên giấy tờ tùy thân của người đại diện theo pháp luật của tổ chức, cá nhân.

Có Giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy có loại dịch vụ được phép kinh doanh là cung cấp dịch vụ chứng thực thông điệp dữ liệu theo pháp luật giao dịch điện tử.

Việc giao kết hợp đồng lao động điện tử được thực hiện thông qua eContract bảo đảm các điều kiện sau:

- Có sử dụng phần mềm ký số, kiểm tra chữ ký số đáp ứng yêu cầu của pháp luật về giao dịch điện tử.

- Có biện pháp bảo mật để bảo đảm an toàn thông tin khách hàng và dữ liệu hợp đồng lao động điện tử; có phương án kỹ thuật bảo đảm duy trì và khắc phục hoạt động chứng thực hợp đồng điện tử khi có sự cố xảy ra.

- Có phương án lưu trữ, bảo đảm tính toàn vẹn dữ liệu của chứng từ điện tử; bảo đảm khả năng tra cứu hợp đồng lao động điện tử đã được giao kết trên eContract.

- Có chức năng bảo đảm được định danh đúng chủ thể và thực hiện xác thực danh tính theo quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử người lao động và người sử dụng lao động.

- Có biện pháp kỹ thuật để xác nhận việc tổ chức, cá nhân đã được định danh đồng ý với các nội dung trong hợp đồng lao động.

- Có chức năng chứng thực hợp đồng lao động điện tử theo quy định pháp luật về giao dịch điện tử để thực hiện chứng thực hợp đồng lao động điện tử trước khi gửi hợp đồng lao động điện tử về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để gắn ID.

- Có chức năng chuyển đổi hình thức giữa hợp đồng lao động điện tử và hợp đồng lao động bằng văn bản giấy theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

- Cung cấp tài khoản giao dịch điện tử tuân thủ các điều kiện quy định tại Điều 46 Luật Giao dịch điện tử.

- Có chức năng hỗ trợ người sử dụng lao động báo cáo tình hình sử dụng lao động theo quy định của pháp luật lao động thông qua giao thức và định dạng do Bộ Nội vụ quy định.

- Có chức năng tổng hợp, thống kê, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất phục vụ quản lý giao dịch hợp đồng lao động điện tử.

- Kết nối qua giao diện lập trình ứng dụng tiêu chuẩn (API) với Nền tảng hợp đồng lao động điện tử theo quy định của Bộ Nội vụ.

- Bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật về an toàn thông tin theo quy định về pháp luật an toàn thông tin mạng.

Ai được khai thác dữ liệu Hợp đồng lao động điển tử?


Theo Điều 17 Nghị định 337/2025/NĐ-CP thì các chủ thể khai thác và sử dụng dữ liệu, dịch vụ trong Nền tảng hợp đồng lao động điện tử bao gồm:

1. Bộ Nội vụ khai thác, sử dụng dữ liệu, dịch vụ trong Nền tảng hợp đồng lao động điện tử phục vụ công tác quản lý nhà nước về giao dịch hợp đồng lao động điện tử theo quy định tại khoản 2 Điều 49 và khoản 3 Điều 50 Luật Giao dịch điện tử; thống kê, tổng hợp phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp có thẩm quyền và công tác hoạch định kế hoạch, chính sách về việc làm, lao động, quan hệ lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội.

2. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội khai thác dữ liệu, sử dụng dịch vụ trong Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để phục vụ công tác quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

3. Cơ quan, tổ chức và cá nhân được phép khai thác và sử dụng dữ liệu của mình; dữ liệu cá nhân của người khác nếu được người đó đồng ý theo quy định của pháp luật.

Nghị định Nghị định 337/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026. Chậm nhất ngày 01/07/2026, Nền tảng hợp đồng lao động điện tử phải được chính thức đưa vào vận hành. Việc giao kết, thực hiện hợp đồng lao động điện tử được thực hiện theo quy định tại Nghị định này từ ngày 01/07/2026.

Sau đây là toàn văn Nghị định 337/2025/NĐ-CP:


Ketoan.biz

Từ ngày 16/01/2026, vi phạm về hóa đơn sẽ bị phạt nặng

Từ ngày 16/01/2026, vi phạm về hóa đơn sẽ bị phạt nặng
Ngày 02/12/2025,Chính phủ đã ban hành Nghị định 310/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 125/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn.



Nghị định 310/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 16/01/2026 được cho là tăng cường các mức phạt đối với  hành vi vi phạm liên quan đến hóa đơn, nhất là hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm, không lập hóa đơn,... với mức phạt lên đến 80 triệu đồng.

Cụ thể, đối với vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn trên 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế.

Nghị định 310/2025/NĐ-CP quy định mức phạt tiền từ 10 triệu đến 16 triệu đồng, áp dụng cho hành vi không cung cấp thông tin hoặc thông đồng, bao che người nộp thuế trốn thuế. Hành vi cho, bán hóa đơn bị phạt tiền nặng từ 20 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

Đáng chú ý, hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, mức phạt từ cảnh cáo (vi phạm 01 hóa đơn) có thể lên tới 50 triệu đến 70 triệu đồng (tùy theo  số lượng hóa đơn vi phạm). Hành vi không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định cũng chịu mức phạt nặng, lên tới 60 triệu đến 80 triệu đồng (đối với vi phạm từ 50 số hóa đơn trở lên).

Đối với các vi phạm không lập hóa đơn đúng thời điểm của hàng hóa, dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu, cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương, tiêu dùng nội bộ mức phạt được phân loại chi tiết, từ phạt cảnh cáo cho 01 số hóa đơn, lên đến 30 triệu đồng tùy theo số lượng hóa đơn vi phạm.

(Theo quy định hiện hành (Nghị định 125/2020/NĐ-CP), tổ chức, cá nhân khi bán hàng hóa, dịch vụ mà lập hóa đơn không đúng thời điểm bị phạt 4-8 triệu đồng, mức phạt không lập hóa đơn khi bán hàng, dịch vụ là 10-20 triệu đồng).

Nghị định mới cũng làm rõ đối tượng bị xử phạt trong các trường hợp ủy quyền hoặc kê khai thay. Theo đó, nếu bên được ủy quyền, tổ chức hoặc cá nhân đăng ký, khai, nộp thuế thay có hành vi vi phạm thì chính tổ chức, cá nhân đó sẽ bị xử phạt. Quy định này cũng áp dụng đối với các đơn vị chịu trách nhiệm kê khai theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu.

Ngoài ra, Nghị định 310/2025/NĐ-CP cũng chính thức bổ sung các trường hợp bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh...) được miễn trừ trong xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.

Nghị định 310/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 16/01/2026, các hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn đã kết thúc trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì áp dụng quy định tại văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm đó.

Tuy nhiên, hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn đang được thực hiện trước ngày Nghị định này có hiệu lực và hành vi vi phạm hành chính đó được phát hiện sau ngày Nghị định này có hiệu lực thì áp dụng quy định tại Nghị định này.

Sau đây là toàn văn (file gốc) Nghị định 310/2025/NĐ-CP:
 
Ketoan.biz

Từ 01/07/2025, không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt có được khấu trừ thuế?

Từ 01/07/2025, không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt có được khấu trừ thuế?
Về nguyên tắc, Luật thuế quy định hàng hóa, dịch vụ phải có hóa đơn và thanh toán không dùng tiền mặt với khoản thu từ 5 triệu đồng trở lên thì doanh nghiệp mới được khấu trừ, hoàn thuế ... 


Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt trong quan hệ thương mại, kinh doanh như đổi hàng, cấn trừ tiền vay, mượn, ủy quyền thanh toán, thanh toán tiền hàng bằng cổ phiếu ... thì làm gì có chứng từ không dùng tiền mặt và liệu các trường hợp này Luật thuế có cho phép khấu trừ thuế?

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là gì?

Theo các quy định của pháp luật hiên hành thì chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt được hiểu là chứng từ, giấy tờ ghi nhận thông tin thanh toán tiền hàng, dịch vụ không bằng tiền mặt mà thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác, như séc, ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi, ủy nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, ví điện tử ...

Ngày 26/11/2024, Quốc hội đã ban hành Luật thuế giá trị gia tăng năm 2024, Luật số 48/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/07/2025. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 181/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng. Chúng ta cùng tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành để hiểu thêm về vấn đề này.

Các căn cứ pháp lý

Theo khoản 2 Điều 14 Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) số 48/2024/QH15 ngày 26/11/2024 quy định về điều kiện khấu trừ thuế GTGT như sau:

"2. Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào được quy định như sau:

a) Có hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 4 của Luật này. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài;

b) Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ;

c) Đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản này còn phải có: hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về việc bán, gia công hàng hóa, cung cấp dịch vụ; hóa đơn bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu; phiếu đóng gói, vận đơn, chứng từ bảo hiểm hàng hóa (nếu có). Chính phủ quy định về điều kiện khấu trừ đối với trường hợp xuất khẩu hàng hóa qua sàn thương mại điện tử ở nước ngoài và một số trường hợp đặc thù khác.".

Mặt khác, quy định về hóa đơn, chứng từ nộp thuế tại Điều 25 Nghị định 181/2025/NĐ-CP ngày 01/07/2025 như sau:

"Điều 25. Hóa đơn, chứng từ nộp thuế

Cơ sở kinh doanh phải có hóa đơn giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng (bao gồm cả chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng theo tỷ lệ % nhân với doanh thu thay cho phía nước ngoài).".

Cũng theo quy định tại Nghị định 181/2025/NĐ-CP, Điều 26 về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt:

"Điều 26. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt

Cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 05 triệu đồng trở lên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trong đó:

1. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là chứng từ chứng minh việc thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán.

2. Một số trường hợp đặc thù theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng bao gồm:

a) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng. Trường hợp bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải có biên bản bù trừ công nợ của ba bên làm căn cứ khấu trừ thuế.

b) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua bên thứ ba mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó và có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay, cho mượn sang tài khoản của bên đi vay, đi mượn đối với khoản vay, mượn bằng tiền bao gồm cả trường hợp bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền mà bên bán hỗ trợ cho bên mua, hoặc nhờ bên mua chi hộ.

c) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba thanh toán không dùng tiền mặt (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán không dùng tiền mặt cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo ủy quyền hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một tổ chức hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.

d) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng cổ phiếu, trái phiếu mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng mua bán dưới hình thức văn bản được lập trước đó.

đ) Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu tại điểm a, b, c và d khoản này mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

e) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán không dùng tiền mặt vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào xác định tương ứng với số tiền chuyển vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước.

g) Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng.

h) Trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới 05 triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới 05 triệu đồng theo giá đã có thuế giá trị gia tăng và trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng, hàng mẫu không phải trả tiền của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thì không cần chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào.

i) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được ủy quyền cho cá nhân là người lao động của cơ sở kinh doanh thanh toán không dùng tiền mặt theo quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của cơ sở kinh doanh, sau đó cơ sở kinh doanh thanh toán lại cho người lao động bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

3. Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ của một người nộp thuế có giá trị dưới 05 triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày có tổng giá trị từ 05 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.".

Các trường hợp không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt được khấu trừ thuế

Như vậy, từ 01/07/2025, để được khấu trừ thuế GTGT thì hàng hóa, dịch vụ mua vào phải có hóa đơn GTGT hoặc chứng từ nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu và phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Luật thuế cho phép khấu trừ thuế các trường hợp đặc thù không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt nhưng kèm theo các điều kiện, cụ thể:

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán bù trừ (hàng hóa, công nợ), bù trừ công nợ qua bên thứ 3... thì phải ghi cụ thể trong hợp đồng và có các biên bản, chứng từ liên quan đến bù trừ công nợ.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một tổ chức hoặc thể nhân hợp pháp; ủy quyền cho người lao động thanh toán phải có quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của cơ sở kinh doanh, sau đó cơ sở kinh doanh thanh toán lại cho người lao động bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng cổ phiếu, trái phiếu mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng mua bán dưới hình thức văn bản được lập trước đó.

- Trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới 05 triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới 05 triệu đồng/ ngày, hàng hóa là quà biếu, quà tặng, hàng mẫu không phải trả tiền của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thì không cần chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào.

Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên thì doanh nghiệp khấu trừ thuế bình thường, nhưng đến thời điểm thanh toán ghi trong hợp đồng không/ chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì phải kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã khấu trừ tương ứng.

Ketoan.biz